Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt

SPL - Nơi thung sâu được bao quanh bởi núi, mùa hè nóng như chảo lửa và mùa mưa thì gần như bị cô lập với bên ngoài,...

Nơi thung sâu được bao quanh bởi núi, mùa hè nóng như chảo lửa và mùa mưa thì gần như bị cô lập với bên ngoài, thôn Ea Rớt (xã Cư Pui, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk) được nhiều người đặt cho cái tên ‘cổng trời’.

Gian nan đường lên “cổng trời”

Chúng tôi đến thôn Ea Rớt vào giữa buổi trưa, trong tiết trời cuối mùa khô cao nguyên nắng như đổ lửa. Con đường từ trung tâm xã ngoằn ngoèo uốn lượn quanh những ngọn núi. Điểm cao và hiểm trở nhất là con dốc nằm trên dãy núi Ea Lang – nơi được ví như “cồng trời”, với những đoạn dốc dựng góc 45 độ và những khúc cua tay áo. Quãng đường dài gần 20km từ trung tâm xã nhưng phải mất gần 1 tiếng rưỡi đồng hồ chúng tôi mới vào đến trung tâm thôn.

Đường từ trung tâm xã Cư Pui lên “cổng trời” Ea Rớt quanh co uốn lượn và rất khó di chuyển.Đường từ trung tâm xã Cư Pui lên “cổng trời” Ea Rớt quanh co uốn lượn và rất khó di chuyển.

Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt

Đường từ trung tâm xã Cư Pui lên “cổng trời” Ea Rớt quanh co uốn lượn và rất khó di chuyển.

Vừa lái xe rẽ qua lớp bụi dày cao đến nửa lốp, anh Y Bây Niê – người dẫn đường, vừa kể, hơn chục năm làm cán bộ văn hóa xã, hiện nay anh còn được giao làm bí thư chi bộ thôn Ea Rớt, nên con đường này anh chạy đã thành quen, gần như thuộc lòng đến đoạn nào có ổ gà, ổ voi. Trước kia đây là đường dùng để khai thác gỗ, sau này khi các công ty lâm nghiệp giải thể, rừng được giao về cho nhà nước quản lý. Về sau có chủ trương của nhà nước, con đường có được mở rộng thêm chút, nhưng vẫn rất khó đi. Mùa khô này còn đỡ, chứ vào mùa mưa, những đoạn ổ voi ổ gà sẽ trở thành “ao cá”, bụi đất nhão thành sình lầy, một số đoạn nước chảy thành dòng đổ từ trên núi xuống phía dưới như những con suối. Người đi xe phải buộc xích vào lốp xe để tạo độ bám, nhiều đoạn vẫn phải khiêng chứ không chạy nổi. Những chiếc xe máy cày, xe độ chế chở hàng hóa chạy nghiêng ngả chừng sắp đổ, nhiều đoạn lún sâu phải dùng tời kéo mới ra được. Cách di chuyển duy nhất là đi bộ. Anh Y Bây nhớ lại, nhiều lần anh phải mất gần 4 tiếng đồng hồ để đi bộ từ thôn ra trung tâm xã.

Ngoài tuyến đường chính nối với trung tâm xã, thôn Ea Rớt con một tuyến đường băng qua suối Đất, nối với xã Cư Êlang (huyện Ea Kar). Để qua bờ bên kia, người dân phải dùng bè tạm, kết từ thân cây, ván gỗ cố định trên những thùng phuy nhựa, bè có độ dài khoảng 7 – 10 mét. Hai bên bờ được đóng cọc, buộc chặt sợi dây to. Khi lên bè, chỉ cần níu sợi dây buộc sẵn, di chuyển chiếc bè từ bờ này sang bờ bên kia. Ông Vàng Seo Dễ, người dân thôn Ea Rớt cho biết, khoảng cách 2 đầu bờ vào mùa khô là khoảng 50 – 60 mét, vào mùa mưa nước dâng cao, khoảng cách này sẽ là 90-100 mét.

Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt - Ảnh minh hoạ 3

Để đi qua xã Cư Ê lang (huyện Ea Kar), người dân phải đi bè qua suối Đất.

Theo ông Vàng Seo Măng, trưởng thôn Ea Rớt việc di chuyển bằng bè qua suối rất nguy hiểm, từng có nhiều trường hợp lật bè, người dân rớt xuống hồ khi qua suối bằng bè. Tuy vậy, đây vẫn là phương tiện phổ biến nhất được dùng ở đây, nhất là vào mùa mưa. Bởi khi đó mọi tuyến đường dân sinh đều bị ngập sâu dưới lòng nước. Điểm ngập sâu nhất là 7-8 mét, nơi thấp nhất cũng khoảng 4 mét. Ea Rớt như một “ốc đảo” thu nhỏ, bốn bề bị dòng suối, vách núi chia cắt. Ngay ở trong thôn cũng bị chia tách thành nhiều điểm. Không chỉ đi lại, bè còn là phương tiện vận chuyển nông sản của người dân. Vào mùa thu hoạch, chiếc bè hoạt động liên tục, kèm theo đó là số vụ lật bè, rớt suối nhiều vô kể. Nước suối chỉ dâng chứ không chảy xiết và người dân, trẻ nhỏ trong thôn phần lớn biết bơi nên chưa có vụ chết người vì rớt suối. Nhưng số người bị thương, dụng cụ lao động, phương tiện xe máy đi lại bị hư hỏng rất nhiều.

Cái nghèo đeo bám và nỗi khát khao gieo vần con chữ

Đang cặm cụi thu hoạch những bụi sẵn được trồng ven triền đồi, mẹ con chị Yàng Thị Dé tươi cười và trả lời chúng tôi bằng ngôn ngữ tiếng Việt bập bẹ. Chị Dé bảo, cây sắn là cây trồng chính của gia đình trong nhiều năm qua, mỗi năm từ 2 ha đất đồi, gia đình chị thu được khoảng 30 – 40 triệu từ bán củ sắn. Củ sắn sau khi đào lên đóng bao sẽ được bán tươi cho những người thu mua với giá từ 1.000- 2.000 đồng/kg.

Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt - Ảnh minh hoạ 5

Những lớp học đơn sơ, với sự nỗ lực của cả thầy và trò để “tìm con chữ”.

Đang vào cao điểm vụ thu hoạch sắn, dọc đường đi có nhiều đoạn triền dốc, các ngách đường “mọc” lên những cái lán tạm, cắm cọc xung quanh, trên lợp bạt hoặc căng bằng bao ni lông. Đây là khu người dân tập kết sắn thu hoạch được để xe vào thu mua. Sắn sau khi cân xong sẽ có xe chở đưa đến công ty chế biến tinh bột sắn ở xã Cư Pui hoặc chở sang huyện Ea Kar. Ở nhiều đoạn ngách xe tải không vào được, sẽ có những chiếc xe công nông độ chế của những người chở nông sản thuê, len lỏi vào tận rẫy sắn của người dân để bốc hàng, trung chuyển.

Ông Vàng Seo Măng, Trưởng thôn Ea Rớt cho biết, thôn được công nhận thành lập từ năm 2004, hiện có 168 hộ với hơn 1.000 nhân khẩu, chủ yếu là người H’mông từ miền Bắc di cư vào từ năm 1996. Kinh tế của người dân phụ thuộc vào nông nghiệp, trồng cây hàng năm, chủ yếu là cây sắn. Những năm trước giá sắn khá thấp nên thu nhập không đáng bao nhiêu, năm nay tuy giá thu mua có nhỉnh hơn đôi chút nhưng cũng không thấm vào đâu vì năm nay sắn mất mùa, củ ít, củ thối do mưa nhiều. Tính ra, mỗi hộ thu về được khoảng 20 triệu đồng/ha/vụ. Ở một số khu vực thấp hơn, người dân cũng có trồng thử nhiều loại cây như cà phê, điều. Nhưng hầu như không đem lại hiệu quả vì đất ở đây không phù hợp, trồng được một thời gian thì cây sẽ bị chết hoặc không ra quả.

Cũng theo ông Vàng Seo Măng, Ea Rớt là thôn xa nhất của xã Cư Pui và huyện Krông Bông, đến nay, đường xá, điện, trường trạm hầu như còn rất thiếu thốn. Tuy được sự quan tâm của nhà nước, đầu tư xây dựng được một số công trình như dãy lớp học, một nhà giáo viên cho các thầy cô ở lại bám điểm trường. Tuy vậy trường học vẫn còn rất sơ sài, bàn ghế chưa có đủ, chưa có phòng tin học, máy tính theo đúng chương trình. 3 năm trở lại đây chính quyền rất tích cực tuyên truyền cho người dân vận động con em đến trường. Lập danh sách các cháu trong độ tuổi đi học nhưng không đi học, thường xuyên vắng học để ban tự quản và chi bộ phối hợp với nhà trường đến từng nhà tuyên truyền vận động, và trường hợp các cháu không còn đi học thì phải có gia đình ký xác nhận để nhà trường có phương án khác. Điểm trường trong thôn chỉ học hết bậc mầm non và cấp 1, để tiếp tục học lên cấp 2 các cháu phải ra xã học, mỗi năm cũng có khoảng 100 học sinh đi học ngoài xã. Việc học tập lên cấp cao hơn cũng gặp rất nhiều khó khăn, đường đi không thuận lợi nên nhiều cháu phải thuê trọ ở lại.

Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt - Ảnh minh hoạ 7

Chiếc xe cày oằn mình đi qua các ngách đường thu gom nông sản giữa mùa thu hoạch.

Ông Lò Khái Phụ, già làng thôn Ea Rớt có 6 người con, trong đó 3 người đã lập gia đình, còn lại 3 người con đang đi học, 1 đứa đang học liên thông đại học, đứa đang học lớp 11 ở thành phố Buôn Ma Thuột và đứa út học lớp 9 ngoài xã Cư Pui. Ông Lò Khái Phụ bảo, “chỉ cần con thích học là bố mẹ cho đi học, học hết đại học rồi học lên cao nữa cũng được, phải học mới hiểu biết, mới biết được những chính sách, đường lối pháp luật của Đảng, của Nhà nước”.

Chuyện các cháu đi học xa đã vất vả, chuyện “gieo” con chữ ở Ea Rớt cũng lắm gian nan, nhất là với các thầy cô vào dạy ở điểm trường. Theo nhiều thầy cô ở điểm trường Ea Rớt kể, mùa khô còn đỡ, chứ vào mùa mưa, khoảng tháng 8 đến tháng 11, việc đi lại rất khó khăn, thậm chí không đi lại được, các thầy cô vào dạy có khi phải ở lại cả tháng.

Theo thầy Trần Ngọc Giang, phó hiệu trưởng trường tiểu học Cư Pui 2, học sinh và người dân rất hiếu học, phụ huynh cho con đi học rất đầy đủ, đạt tỉ lệ hơn 95%. Hiện tại điểm trường Ea Rớt có 6 lớp (gồm 5 lớp khối tiểu học và 1 lớp mầm non (điểm trường mầm non Cư Pui) với 165 học sinh đều là người H’mông. Tại đây có 6 giáo viên đứng lớp và 2 giáo viên dạy bộ môn. Các cô giáo đứng lớp đều ở xa, như cô Nguyễn Thị Trang, giáo viên dạy lớp 1, nhà cách trường tới 60km, nhưng hầu hết cô đều đi đi về về chứ không thể ở lại vì có con nhỏ. Nhà trường cũng có sự quan tâm sắp xếp bố trí lớp dạy sao cho hợp lý nhất.

Tại khu tập thể giáo viên hiện tại đã được lắp đặt điện năng lượng mặt trời, có giếng nước, phòng ở được trang bị quạt, khu nấu ăn tương đối đầy đủ. Cô giáo Lương Thị Tưới tại điểm trường chia sẻ, so với mặt bằng chung thì điều kiện dạy học tại trường cũng coi là tạm ổn, học sinh ở đây khá ngoan, đi học đều, chỉ có một vài trường hợp cá biệt hay vắng học thì nhà trường và giáo viên cũng thường xuyên quan tâm, đến nhà vận động, trao đổi với phụ huynh nên các cháu đã tới trường đầy đủ hơn. Cái khó của thầy cô chính là sự bất đồng ngôn ngữ và thiếu giáo cụ trực quan, các cô dạy chỉ nói miệng thì rất khó cho học sinh hình dung, nhất là khi khả năng hiểu tiếng việt của các cháu còn rất hạn chế. Trang bị thiếu thốn nhiều, ti vi, hình ảnh minh họa không có. Thầy cô khắc phục bằng cách nếu ngoài trường chính có thì sẽ mượn đem vào để các cháu được tiếp xúc, được học thêm. Lớp cô Tưới có 25 em thì có 1 em cá biệt, ở lại lớp 2 năm, thường xuyên vắng học đi chăn trâu, sau nhiều lần vận động tận nhà thì cháu đã đi học đều hơn.

Đắk Lắk: Cuộc sống của bà con ở ‘Cổng trời’ Ea Rớt - Ảnh minh hoạ 9

Những chuyến xe chở nông sản qua bè, di chuyển trên mặt nước bằng sức kéo con người.

Thương học sinh và thương sự chịu khó của các em với khát khao học chữ, các thầy cô giáo ở đây đều nỗ lực vượt qua khó khăn. Thầy giáo Vũ Hồng Vĩnh, giáo viên thể dục tại điểm trường chia sẻ, anh đã vào dạy tại điểm trường 3 năm học, luân phiên qua lại giữa trưởng chính và điểm trường tại thôn Ea Rớt, vất vả nhất là vào mùa mưa, việc đi lại khó khăn, xót nhất là chiếc xe – phương tiện di chuyển của các thầy cô. Hầu như những chiếc xe có tuổi thọ rất ngắn, xuống cấp nhanh chỉ sau 1 – 2 năm sử dụng. “Vất vả thì vất vả, nhưng cố gắng là được. bởi so ra thì các em học sinh ở đây còn vất vả và thiếu thốn hơn rất nhiều. Nhưng sự hiếu học của các em, cách các em chuyên cần đến lớp là động lực rất lớn để các thầy cô tiếp tục cố gắng” – thầy Vũ Hồng Vĩnh tâm sự.

H Xíu – Thanh Tú

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây